Sưu tầm
Nguyễn Dung – Báo Quảng Ninh Điện tử
Giữa lòng đất sâu hun hút với không ít nguy cơ về bục nước, cháy nổ, sập lò… có những chiến sĩ cấp cứu mỏ vẫn ngày đêm miệt mài rèn luyện, sẵn sàng lao vào nơi nguy hiểm nhất khi sự cố xảy ra. Công việc của họ không chỉ đòi hỏi sức khỏe và bản lĩnh thép, mà còn đòi hỏi sự khoa học, chính xác và tinh thần hiệp đồng cao độ trong môi trường khắc nghiệt, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh. Mỗi buổi tập đẫm mồ hôi hôm nay chính là sự đánh đổi để giảm thiểu mất mát ngày mai, để tinh thần “kỷ luật và đồng tâm” luôn sáng ngời trong những khoảnh khắc cam go nhất của nghề đặc biệt này.
“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”
Đó tưởng chừng chỉ là khẩu hiệu quen thuộc của lực lượng vũ trang, song cũng chính là phương châm công tác của những chiến sĩ cấp cứu mỏ thuộc Trung tâm Cấp cứu mỏ – Vinacomin. Họ là lực lượng thường trực sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ xử lý, giải quyết các sự cố, tai nạn trong khai thác than hầm lò và cứu hộ, cứu nạn.
Chúng tôi đến Trung tâm Cấp cứu mỏ – Vinacomin đúng vào một ngày mưa rào đầu hè. Gió giật từng cơn, mưa xối trắng cả khoảng sân Khu nghiên cứu và thực nghiệm cấp cứu mỏ (phường Hà Tu), tưởng chừng mọi hoạt động phải tạm dừng. Thế nhưng, giữa màn mưa dày đặc ấy, các chiến sĩ cấp cứu mỏ vẫn miệt mài luyện tập, tiếng bộ đàm vẫn liên tục vang lên báo cáo tình huống từ dưới đường lò lên trạm chỉ huy dã chiến.

Đội viên của các Trạm cấp cứu mỏ Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả trong trang phục bảo hộ kín mít sũng nước, đeo máy thở nặng trĩu trên vai, nối nhau tiến vào đường lò ngập khói độc, nóng ngột ngạt với tầm nhìn gần như bằng không. Họ khẩn trương thực hành các phương án cứu nạn, tìm kiếm và đưa “nạn nhân” ra khỏi khu vực nguy hiểm. Mỗi lần hoàn thành bài tập, ai cũng nhễ nhại mồ hôi, quần áo ám đặc mùi khói khét. Nhưng với các đội viên cấp cứu mỏ này, nắng gắt hay bão giông chưa bao giờ là lý do để họ nghỉ ngơi, bởi tai nạn hầm lò có thể xảy ra bất cứ lúc nào, trong bất kỳ tình huống nào.
Anh Phạm Văn Hạ (SN 1985), Trạm phó Trạm cấp cứu mỏ Hạ Long, chia sẻ: “Công việc cấp cứu mỏ vô cùng nặng nhọc, độc hại và đặc biệt nguy hiểm. Vì vậy, việc tập luyện phải diễn ra thường xuyên, liên tục, bất chấp mọi loại hình thời tiết, ngày đêm, để đảm bảo khi sự cố xảy ra, chúng tôi có thể xử lý nhanh chóng và hiệu quả nhất”.
Trung bình mỗi tuần, các tiểu đội thuộc các Trạm cấp cứu mỏ Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả luân phiên tập trung tại Khu nghiên cứu thực nghiệm cấp cứu mỏ để thực hành các tình huống giả định như: Cháy ngoại sinh, cháy nội sinh, nổ khí, xuất khí, bục nước, bục bùn, sập lò… Mỗi bài tập đều được mô phỏng sát thực tế, đặt các đội viên vào những điều kiện khắc nghiệt nhất để rèn phản xạ, bản lĩnh và khả năng xử lý tình huống.

Với 4 năm làm thợ lò và 16 năm gắn bó nghề cấp cứu mỏ, anh Phạm Văn Hạ không nhớ nổi mình đã tham gia bao nhiêu vụ cứu hộ. Nhưng có một ký ức không thể quên đó là mở “con đường máu” giải cứu thành công 12 công nhân mắc kẹt trong sự cố sập hầm thủy điện Đạ Dâng (tỉnh Lâm Đồng). “Trời rét cắt da, mưa rừng không ngớt, nước ngấm liên tục khiến nguy cơ sạt lở rất cao. Chúng tôi chỉ có một mục tiêu là cứu người bằng được. Anh em kiên trì sử dụng xẻng đào bùn đất để mở từng mét lò men, lò tránh suốt gần 80 giờ. Khi mở được đường hầm và thấy 12 công nhân an toàn, tất cả chúng tôi kiệt sức, nhưng đều ôm chầm nhau trào nước mắt” – anh Hạ bồi hồi nhớ lại.
Nghề cấp cứu mỏ không có chỗ cho sự chủ quan. Bởi vậy, dù đã gắn bó 10 năm hay 20 năm, việc rèn luyện chưa bao giờ được phép lơi lỏng. Trước khi trở thành chiến sĩ cấp cứu mỏ, họ đều là những thợ lò lành nghề, nhưng bước vào lực lượng này đồng nghĩa với việc chấp nhận gian nan, khắc nghiệt gấp nhiều lần.

Là đội viên trẻ của Trạm cấp cứu mỏ Uông Bí, anh Hoàng Đức An (SN 1993) luôn nỗ lực học hỏi, nâng cao kỹ năng cứu hộ và thành thạo các thiết bị công nghệ mới. Anh An chia sẻ: “Mỗi buổi huấn luyện, chúng tôi phải mang vác gần 40kg máy thở trong môi trường nóng bức, thiếu ôxy. Dù đã quen cường độ cao, vẫn có người bị sốc nhiệt. Không chỉ rèn thể lực, chúng tôi còn phải thường xuyên cập nhật kiến thức an toàn và công nghệ mới để xử lý sự cố nhanh nhất”.
Để đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, thể lực là yêu cầu bắt buộc. Những bài tập được duy trì đều đặn nhiều ngày trong tuần, bất kể thời tiết, gồm: Chống đẩy kết hợp bật nhảy 100 lần với độ cao cách mặt đất 20cm; lật lốp ô tô nặng 75kg 200 lần; kéo tạ 25kg 100 lần, chạy bền 3.000m… Cùng với đó, hằng tháng các đội viên được cử đi kiểm tra các mỏ 2-3 lần để nắm bắt điều kiện sản xuất, hỗ trợ các đơn vị giảm thiểu nguy cơ mất an toàn. Đặc biệt, mỗi năm các đội viên còn trực tiếp xuống lò sản xuất như những người thợ thực thụ trong 2 tháng để hiểu rõ địa bàn, công nghệ khai thác và môi trường lao động.

Với những chiến sĩ cấp cứu mỏ, chỉ có khổ luyện nghiêm ngặt mới giúp họ đủ sức bước vào nơi hiểm nguy nhất. Giữa bóng tối hầm lò, khói bụi và khí độc khi sự cố xảy ra, hành trang họ mang theo không chỉ là kỹ năng, thiết bị và kinh nghiệm, mà còn là sự tính toán khoa học, chính xác, bản lĩnh vững vàng và tinh thần quả cảm.
Nhân lên tinh thần “kỷ luật và đồng tâm”
Phía sau mỗi cuộc giải cứu thành công là vô vàn giờ huấn luyện khắc nghiệt, là sự đánh đổi bằng mồ hôi, sức lực và cả những hiểm nguy luôn cận kề. Với lực lượng cấp cứu mỏ, “kỷ luật và đồng tâm” không chỉ là truyền thống của người thợ mỏ Quảng Ninh, mà còn là mệnh lệnh trong từng bước chân, từng quyết định dưới lòng đất.
Giá trị cốt lõi của Trung tâm Cấp cứu mỏ – Vinacomin là: “Chuyên nghiệp – kỷ luật – đoàn kết – nhân ái”. Lời thề nghề nghiệp của mỗi đội viên càng khắc sâu tinh thần ấy: “Nắm vững kỹ thuật; bình tĩnh, tự tin; đồng tâm nhất trí; dũng cảm quên mình; nỗ lực luyện rèn, ngày càng ưu tú. Luôn nhớ bên mình – An toàn số 1”.

Để giữ vững lời thề ấy, các chiến sĩ cấp cứu mỏ không chỉ rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thể lực, mà còn tôi luyện bản lĩnh thép, ý chí và khả năng làm chủ tình huống. Trong không gian hầm lò chật hẹp, tối tăm, đầy khí độc, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể đẩy cả đội vào nguy hiểm. Vì vậy, mỗi đội viên phải nắm chắc sơ đồ đường lò, nguyên lý vận hành thiết bị và quy trình xử lý từng loại sự cố. Thời gian trong cứu hộ quý hơn vàng. Có những cuộc giải cứu kéo dài hàng chục giờ, thậm chí nhiều ngày, các chiến sĩ thức trắng, ăn vội bên cửa lò, quần áo lấm đầy bùn đất và mồ hôi. Chính lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và tình yêu nghề đã giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi, kiên cường tiến sâu vào nơi nguy hiểm nhất để giành lại sự sống cho đồng đội.
Suốt 48 năm xây dựng và trưởng thành, lực lượng cấp cứu mỏ Vinacomin không chỉ thực hiện nhiệm vụ cứu hộ trong ngành Than, mà còn tham gia nhiều vụ cứu nạn lớn trên cả nước. Từ sự cố sập hầm thủy điện Đạ Dâng (tỉnh Lâm Đồng); sự cố bục nước, sập lò tại Lỗ Sơn (tỉnh Hòa Bình cũ) với 4 ngày đêm tìm kiếm không ngừng nghỉ; đến sự cố cháy khí tại các hầm lò trên địa bàn tỉnh, sự cố lật tàu chở khách du lịch trên Vịnh Hạ Long, cháy rừng, cháy nhà dân sinh… ở đâu cần cứu người, ở đó có bước chân không mỏi của những chiến sĩ cấp cứu mỏ.

Ông Đào Văn Yên, Giám đốc Trung tâm Cấp cứu mỏ – Vinacomin, khẳng định: “Đến thời điểm này, chúng tôi có thể đảm nhận, hoàn thành bất cứ nhiệm vụ cứu hộ nào trong hầm lò, cũng như các nhiệm vụ cứu nạn dân sinh do Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn giao. Bởi điều làm nên sức mạnh của lực lượng cấp cứu mỏ không chỉ là trang thiết bị hay kỹ thuật chuyên môn, mà còn là tinh thần kỷ luật, sự gắn bó và ý thức sẵn sàng nhận nhiệm vụ của mỗi đội viên trong mọi hoàn cảnh hiểm nguy nhất”.
Sau mỗi cuộc cứu hộ nghẹt thở là những đêm trắng, những lần kiệt sức vì thiếu ôxy, mồ hôi hòa bùn đất, cùng áp lực sinh tử đè nặng, rồi lại những ngày phải hồi phục để lấy lại sức. Nhưng vượt lên tất cả, các chiến sĩ cấp cứu mỏ vẫn giữ vững lời thề nghề nghiệp bằng tinh thần “kỷ luật và đồng tâm”, ý chí quả cảm và trách nhiệm cao cả. Không ồn ào, họ ngày ngày âm thầm khổ luyện, sẵn sàng lao vào nơi nguy hiểm nhất từ sự cố hầm lò đến các nhiệm vụ cứu nạn dân sinh. Và chính trong gian khó, phẩm chất kiên cường, nghĩa tình của người thợ mỏ Quảng Ninh lại càng thêm tỏa sáng.